Giỏ hàng    (0) sản phẩm
Hotline: 0902 862 988

THỰC PHẨM BẢO VỆ SỨC KHỎE

Tác hại của bệnh tiểu đường trên mạch máu

06-03-2018
Phần lớn các tổn thương mạch máu trong bệnh tiểu đường đều là hậu quả của việc không điều trị kịp thời căn bệnh rối loạn chuyển hóa lipid (rối loạn mỡ máu).

Bệnh tiểu đường nếu không được điều trị kịp thời, sẽ phát sinh ra những mảng xơ vữa động mạch và dẫn đến các biến chứng tắc động mạch. Các động mạch hay bị tắc nhất thường là: Động mạch vành tim, động mạch não, động mạch ngoại vi v.v…

Bệnh mạch vành:

Bệnh nhân bị tiểu đường dễ bị mắc bệnh mạch vành 2-3 lần so với người bình thường. Số người tử vong do bệnh mạch vành ở người tiểu đường cũng cao hơn người bình thường 2 lần. Tổn thương trên mạch vành ở bệnh nhân tiểu đường cũng rải rác hơn và ảnh hưởng đến các nhánh nhỏ của động mạch vành nhiều hơn nên việc điều trị, nhất là nong mạch vành và điều trị ngoại khoa làm cầu nối động mạch cũng khó khăn hơn rất nhiều.

Các biểu hiện chính của bệnh là: Cơn đau thắt ngực, gặp khi bệnh nhân làm việc gắng sức và nhồi máu cơ tim. Có những trường hợp, bệnh nhân không hề biết có bệnh tiểu đường và chỉ khi bị cơn đau thắt ngực hoặc nhồi máu cơ tim, các khám nghiệm lâm sàng mới cho thấy bệnh tiểu đường đã có từ lâu.

 

Với bệnh nhân bị bệnh tiểu đường, tiên lượng của bệnh lý mạch vành rất xấu, hơn cả những bệnh nhân không bị tiểu đường vì: Thông thường bệnh nhân tiểu đường thường có suy tim, suy thận kèm theo, bệnh nhân có thể bị nhiễm toan chuyển hóa ngay sau khi bị nhồi máu cơ tim. Do đó việc điều trị cũng gặp nhiều khó khăn, nhất là khi sử dụng Insulin trên bệnh nhân có suy thận.

Để phòng ngừa biến chứng mạch vành cho bệnh nhân tiểu đường phải đảm bảo các nguyên tắc sau: Kiểm soát đường trong máu thật chặt chẽ và thường xuyên bằng thuốc hạ đường huyết uống hoặc tiêm, điều trị có hệ thống các rối loạn chuyển hóa chất béo đi kèm và ngừng hút thuốc lá, giảm cân nặng v.v…

 Tai biến mạch máu não:

Bệnh nhân tiểu đường có thể bị tai biến mạch máu não, tỷ lệ cũng cao hơn người bình thường khoảng 2 lần. Diễn tiến của tai biến mạch máu não có thể từ từ, tiến triển dần dần hoặc đột ngột mê và liệt nửa người ngay.

Tổn thương hay gặp nhất là hẹp hoặc tắc động mạch cảnh do những mảng xơ vữa đi kèm. Bệnh nhân thường có những biểu hiện của thiếu máu não trước khi bị tai biến như hay quên, chóng mặt, tri giác không được tốt v.v… Khi có nghi ngờ, bác sĩ sẽ cho người bệnh đi làm siêu âm Doppler mạch máu vùng cổ, vì đây là xét nghiệm tốt nhất có hiệu quả cao trong đánh giá các tổn thương của mạch máu ở vùng này, để từ đó có hướng điều trị thích hợp. Có thể phòng ngừa bằng sử dụng thuốc Asprin liều thấp từ 80 – 160 mg một ngày.

Bệnh mạch máu ngoại vi:

Các nghiên cứu ở các quần thể dân cư khác nhau đều cho thấy có sự liên quan mật thiết giữa bệnh tiểu đường và chứng xơ vữa động mạch. Trước kia, các nhà bệnh lý học thường quan niệm: Ở bệnh nhân tiểu đường chỉ có tổn thương của các động mạch nhỏ vùng ngoại vi, tuy nhiên ngày nay với sự tiến bộ của khoa chẩn đoán hình ảnh, các quan niệm trên đã dần được thay đổi: Các mạch máu lớn ngoại vi như động mạch chậu, động mạch đùi, động mạch khoeo v.v… cũng bị tổn thương bởi các mảng xơ vữa động mạch. Hậu quả là xuất hiện tình trạng thiếu máu nuôi các chi, đặc biệt là hai chi dưới. Ở những bệnh nhân bị tiểu đường tỷ lệ hoại tử chi tăng từ 8 đến 150 lần so với những người bình thường. Cả hai giới nam và nữ đều bị biến chứng như nhau và có tới 25% bệnh nhân tiểu đường bị các biến chứng này.

Các triệu chứng của bệnh rất giống với bệnh viêm tắc động mạch do xơ vữa động mạch như: Đau cách hồi (bệnh nhân bị đau bắp chân khi đi lại nhiều, đau sẽ giảm đi khi bệnh nhân ngồi nghỉ), đau chân ở tư thế nằm, chân lạnh và tím ở các ngón chân, teo cơ, cuối cùng là hoại tử khô và hoại thư ướt khi có nhiễm trùng.

Bệnh nhân được chẩn đoán chính xác bằng chụp động mạch có cản quang với kỹ thuật số. Có rất nhiều khả năng sẽ xảy ra: Tắc hoàn toàn các động mạch chi dưới, hẹp một phần động mạch, đoạn hẹp có thể ngắn, nhưng thông thường khá dài và lan tỏa. Chính vì vậy việc điều trị nối ghép mạch máu cho bệnh nhân bị biến chứng động mạch ngoại vi trong bệnh tiểu đường rất khó thực hiện và có thực hiện được đi nữa thì tỷ lệ thành công cũng không cao.

Các phương pháp điều trị cơ bản vẫn là: Kiểm soát tốt đường huyết, bỏ thuốc lá, điều trị những rối loạn trong chuyển hóa lipide, có chế độ ăn thích hợp v.v… Tuy nhiên, phần lớn người bệnh, nhất là người bệnh Việt Nam đều hiểu biết mơ hồ rằng sẽ có những loại thuốc, có những phương pháp điều trị, đặc biệt là các vị thuốc Nam sẽ chữa khỏi hoàn toàn bệnh tiểu đường. Nhưng thật ra đó là một quan niệm không tưởng và rất nguy hiểm cho bệnh nhân và thế là họ không tiếp tục điều trị nữa khi thấy đường huyết tạm ổn định trong khi điều trị. Một thời gian sau, các biến chứng xuất hiện và lúc đó thì đã quá muộn để có một phương pháp điều trị tốt nhất cho người bệnh. Quan niệm hiện nay của các thầy thuốc cả nội khoa và ngoại khoa là: Bệnh tiểu đường là một bệnh mạn tính, không có chuyện chữa khỏi hoàn toàn bệnh mà chỉ có chận đứng bệnh bằng chế độ ăn uống luyện tập hợp lý, các thuốc kiểm soát đường huyết sử dụng mỗi ngày và cần phải theo dõi, nhằm phát hiện sớm những biến chứng về mạch máu để có thể có được phương thức điều trị tốt nhất.

 Nhưng các biện pháp can thiệp như: Cắt thần kinh giao cảm, phẫu thuật bắc cầu động mạch rất khó thực hiện và không có hiệu quả, cuối cùng đều đưa đến cắt cụt chân. Vị trí cắt cụt được lựa chọn là 1/3 trên cẳng chân, đây là vị trí thuận tiện cho việc lành vết thương và làm chân giả. Qua rất nhiều trường hợp cắt thấp hơn như cắt bàn chân, tháo khớp cổ bàn chân theo yêu cầu của bệnh nhân đều không lành và phải cắt lại gây tốn kém cả về thời gian và tiền bạc.

Nguồn Internet

 

>> Xem thêm: Mỡ máu cao và tiểu đường

Rối loạn mỡ máu là yếu tố nguy cơ gây ra tiểu đường typ 2. Tiểu đường typ 2 là nguyên nhân thường gặp làm rối loạn mỡ máu. Theo Trung tâm phòng ngừa và kiểm soát bệnh tật ở Hoa Kỳ, có khoảng 70-90% bệnh nhân tiểu đường typ 2 có rối loạn mỡ máu.

Khi đường huyết trong máu tăng cao sẽ tạo thành lớp bao phủ lên các thụ thể chuyên loại bỏ LDL-cholesterol tại gan, làm gan không thể loại bỏ được LDL-cholesterol, gây mỡ máu cao. Khi đường huyết tăng cao, độ nhớt của máu tăng sẽ làm tăng sự lắng đọng và bám dính của tế bào mỡ vào thành mạch, tạo nên các mảng xơ vữa và làm cho thành mạch bị hẹp dần lại.

Ngược lại, khi mỡ máu tăng cao, mỡ máu xấu sẽ kháng lại chất insulin – nội tiết tố do tuyến tụy tiết ra để điều hòa chuyển hóa đường, làm người bệnh dễ bị tiểu đường hoặc làm cho bệnh tiểu đường nặng hơn.

Tăng đường huyết và rối loạn mỡ máu đều dẫn đến hậu quả xơ vữa động mạch. Mỡ máu cao lâu ngày nồng độ cholesterol xấu và triglycerid cao. Chúng tích tụ trong lòng động mạch, bám vào thành mạch và phát triển thành mảng xơ vữa. Lượng đường tăng cao làm gia tăng tính kết dính ở thành mạch máu, các tiểu cầu dễ tích tụ lại ở vùng mạch máu đã bị tổn thương, các sợi fibrin cũng tồn tại lâu hơn ở bệnh tiểu đường, do đó bệnh nhân tiểu đường bị xơ vữa động mạch sớm hơn so với người không bị tiểu đường.

Các nghiên cứu cho thấy, mỡ máu cao ở bệnh nhân tiểu đường làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch gấp 2-4 lần, tăng nguy cơ tử vong do đột quỵ gấp 2-6 lần, tăng nguy cơ tổn thương mạch máu gấp 10 lần so với bệnh nhân tiểu đường thông thường. Do đó đối với người bệnh mỡ máu cao và tiểu đường, phải điều trị đồng thời hai bệnh này để phòng ngừa biến chứng xơ vữa động mạch.

GIÁNG CHỈ SEN TÁO MÈO -  HỖ TRỢ ĐIỀU TRỊ BỆNH MỠ MÁU + MỠ GAN HIỆU QUẢ


Danh mục sản phẩm

Kiến thức sức khoẻ

Bài thuốc cổ phương

Ưu đãi khách hàng

Top